Được
xây dựng ở cổ thành Luy Lâu từ thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên, Chùa Dâu được coi là
ngôi chùa cổ nhất và là nơi khởi nguồn của đạo Phật Việt Nam.
Chùa nằm phía nam cổ
thành Luy Lâu, trên một khu đất rộng bên bờ sông Thiên Đức cũ (nay thuộc thôn
Khương Tự, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Xa xưa người dân
ở đây thường sống bằng nghề trồng dâu, nuôi tằm và cấy lúa nước nên dân gian
xưa gọi là vùng dâu hoặc Kẻ Dâu.
Ban đầu chùa có tên là
Pháp Vân Tự. Theo sự tích dân gian, Man Nương vào tu tại chùa Linh Quang (thuộc
huyện Tiên Sơn ngày nay) từ năm 12 tuổi. Một hôm Man Nương đang nằm ngủ, nhà sư
Khâu Đà La người Tây Trúc (Ấn Độ) vô tình bước ngang qua người. Bà Man Nương có
mang, sau 14 tháng thì sinh ra một cô con gái. Trước khi về Tây Trúc sư Khâu Đà
La đã trao cho Man Nương một cây gậy tầm xích dặn là khi nào hạn hán mang ra
cắm xuống đất sẽ cứu được mọi sinh linh và niệm chú gửi bé gái vào một hốc cây
dâu bên bờ sông Thiên Đức.
Sau khi sư về Tây
Trúc, hạn hán kéo dài ba năm. Man Nương liền dùng gậy tầm xích cắm xuống đất
tạo ra mưa. Cây dâu bị đổ trôi về thành Luy Lâu và trôi vào bờ khi nghe tiếng
bà Man Nương gọi. Man Nương cho xẻ tạc cây thành bốn tượng Phật gọi là tứ
pháp, đặt phật hiệu là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện tượng trưng cho
mây, mưa, sấm, chớp. Khi tạc đến khúc giữa, những người thợ gặp phải hòn đá bèn
ném xuống sông. Ban đêm, lòng sông sáng rực lên. Thì ra đó là người con gái của
Khâu Đà La gửi vào cây dâu đã hóa đá. Hòn đá nhảy vào thuyền bà Man Nương và
được bà đưa lên thờ, gọi là đức Thạch Quang (đá tỏa sáng).
Man Nương sau được tôn
là Phật mẫu, tu ở chùa Tổ (Mãn xá), còn tứ pháp được thờ ở bốn chùa khác nhau
trong cùng một khu vực.
Pháp Vân Tự - Chùa Dâu
là nơi tu hành đắc đạo của nhiều vị cao tăng nổi tiếng. Với ý nghĩa là một
Trung tâm Phật giáo từ đầu Công nguyên, nơi đây đã đào tạo 500 vị tăng ni, dịch
15 bộ kinh phật và xây dựng hàng chục bảo tháp uy nghiêm. Nhiều vị cao tăng nổi
tiếng đã đến đây trụ trì như Mâu Bát, Tì Ni Da Lưu Chi, Khang Tăng Hội, Pháp
Hiền.
Chùa Dâu được coi là
một ngôi chùa rất thiêng nên còn được gọi là chùa Diên Ứng (diên là câu, ứng là
hiệu, tức cầu gì được nấy). Các đời vua của các triều đại xa xưa đã từng về
chùa Dâu để rước tượng Pháp Vân về chùa Báo Thiên (Hà Nội) để cầu đảo (cầu mưa
cầu gió). Vua Lý Thánh Tông cũng đã về chùa cầu tự, khi đi thuyền trên sông đã
gặp nguyên phi Ỷ Lan.
Chùa Dâu ngày nay là
kiến trúc tu sửa từ thế kỷ 17-18, thời Hậu Lê. Chùa chính được bố cục theo kiểu
"nội công ngoại quốc", nằm trong khuôn viên hình chữ nhật 30x70m, bao
gồm tiền đường, tháp Hòa Phong, tả trường lang, hữu trường lang, đại bái đường,
Phật điện, cung cấm, hậu đường, Thạch Quang am.
Trải qua bao thăng
trầm của thời gian, chùa Dâu và hội Dâu vẫn luôn là điểm đến của Phật tử cả
nước. Du khách đến với chùa Dâu như về với cội nguồn của đạo Phật nước Nam, để
cầu khẩn một sự bình yên trong tâm hồn như cái tên bình dị, mộc mạc của ngôi
chùa cổ trên đất Bắc Ninh.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét