Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014

SEN VÀ CÁ


 Chiều nay, một chiều thật an bình, dưới bóng râm mát diệu của những tàn cây xanh, lồng lộng tiếng chim như trĩu thanh âm xuống phòng khách bên trong một ngôi đạo tràng. Bình trà đã rót nhiều lần, nhưng hương vị trà hãy còn thấm đậm theo dòng thế sự hoài niệm cổ kim.

Chúng tôi, mấy huynh đệ và đạo hữu trong buổi gặp gỡ, thường là không hẹn, bởi giấc đi miên man thì biết đâu mà hẹn cuộc tương phùng. Bây giờ ngồi tính lại thời gian đã hơn năm mươi năm (50) trôi xa và rồi sẽ còn trôi xa hơn thế nữa, hôm nay ngày nầy năm xưa, Bồ tát Quảng Đức đã thắp lên ngọn lửa “vị pháp thiêu thân”, một trái tim đã ươm mầm cho hằng triệu triệu trái tim, hồng lên cho muôn trùng cõi vô minh của một thời hoang vu bạo tàn đế chế. Thế rồi, trái tim xưa vẫn tươi sắc hồng bất diệt, mà dòng đời thì cứ nặng nề lê mình qua từng khúc quanh nắng quái chưa tan. Vẫn biết rằng:

“Chỗ người ngồi một thiên thu tuyệt tác
Trong vô hình sáng chói nét Từ Bi”
(Vũ Hoàng Chương)

Có người hỏi: “Bây giờ trái tim của Bồ tát ở đâu, vì sau …?” Ở đâu và vì sau, lại dâng lên một nỗi mang mang trôi xa và trôi theo năm mươi năm của ngày ấy…

Thế rồi, câu chuyện được chuyển sang một cung bậc khác, một ý thức sống trong cuộc đời. Một đạo hữu kể rằng: “Có vị sư nhờ tìm cho một ít loài sen trắng để trồng, để điểm vào không gian của ngôi chùa với sắc màu tinh trắng của sen, vẫn biết rằng loại sen này khó trồng hơn những loại sen hồng, sen xanh.

Thời gian nghĩ quanh đây đó, chợt nhớ và vội tìm đến nơi ấy, thì ra khung cảnh hồ xưa, nay chỉ là một trũng nhỏ còn đọng lại một ít nước, trông thấy lúc nhúc mớ cá lon con còn xót lại trong hồ, phần diện tích hồ đã san lấp gần đầy. Nỗi buồn giây phút khi biết ra nay sen không còn, lại tiếp nỗi lòng trắc ẩn khi phát hiện sự sống mong manh của một số cá con còn lại nơi trũng nước nhỏ kia. Không câu nệ bùn dơ, từng cái thau nhỏ múc đổ dần vào cái sô to rồi nhọc nhằn đem ra thả xuống dòng sông lớn cho cá được tiếp tục sự sống mới, thoát đi cái cảnh ao tù, chắc chắn rằng chúng được tự do hơn, thoải mái hơn nơi bến rộng sông dài. Ơn ấy, công ấy, cá biết đâu mà đền mà trả, nhưng chỉ mong rằng cá lo sống tốt cho đời của cá mà thôi. Chuyện kể là như thế!

Vấn đề là đi tìm sen trắng đem về trồng trong ao vườn chùa. Vâng! vì rằng sen có nhiều đặc tính thanh cao, sự thanh cao ấy mà chư Phật và chư Thánh, những bậc hiền thiện thường ca ngợi tự ngàn xưa cho đến cả ngàn sau, cái đạo lý vô nhiễm vẫn trang nghiêm giữa cuộc đời tạp nhiễm. Trước đây, đức Phật đã cho chúng ta thấy rằng:

“Như giữa đống rác nhớp
Quăng bỏ trên đường lớn
Chỗ ấy hoa sen nở
Thơm sạch, đẹp ý người”   
PC.58.

Trồng sen là chọn lấy, khắc họa một biểu tượng cho cái sống thanh cao của tâm hồn, cái đẹp, cái thẩm mỹ, sự trong sáng vượt thoát không phải từ đầu non đỉnh núi, mà phải từ cõi lạc thú phàm tâm. Chính vì vậy, đức Phật xác chứng qua lời dạy tiếp:

“Cũng vậy, giữa quần sanh
Uế nhiễm, mù, phàm tục
Đệ tử bậc Chánh Giác
Sáng ngời với tuệ trí.”    
PC.59.

Ngoài sự ca ngợi của chư Phật, chư Thánh đệ tử và các bậc Thiền Tổ.v.v… Còn có sự ca ngợi trong kho tàng Ca dao, Dân ca Việt Nam đã được truyền tụng qua bao đời của ông, cha và rồi cũng sẽ truyền đi bất tận cho đến tận mai sau. Bởi:

“Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng lại chen nhụy vàng
Nhụy vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”   
(Ca dao VN)

Thanh cao quá! như một câu kinh huyền nhiệm, như một tâm hồn không vết xước trầm luân. Nhưng có xa rời đâu cái “Thực-hữu” ở đây và  cả bây giờ!

Chuyện của cái ao (đời) dù nay có bị lấp cạn đi, và cho dù nay nơi ấy đã không còn sen nữa, không thỏa mãn những ước mong tìm sen về trồng. Thế nhưng, điều gì lại giúp cho chúng ta có một cung nhịp mới, một cơ hội mới cho việc đi tìm một hướng đi trong muôn vàn hướng đi, một sự ẩn trú bình an trong muôn vàn sự ẩn trú. Đó là, chợt thấy sự sống mong manh của một ít cá còn lại nơi trũng nước đục cạn. Điều ấy, nếu không phải “thực” là gì? Thay vì ta phải thênh thang đi tìm một “chơn lý, lý tưởng” ảo hư mơ hồ vô vọng, phi thực.

Nếu như ta cố son phấn cho việc làm, thì việc làm sẽ chỉ là son phấn, đạo lý cuộc sống đâu nhất thiết phải cần đến chất liệu son phấn giả tạm ấy! Và trái lại, son phấn cũng không cần phải vẽ lên sắc màu đạo lý của bậc Thánh Hiền.

Đến đây, chúng ta còn nhớ đến một sự việc khác nữa, qua một câu chuyện sống đẹp được kể rằng: “… Có một cậu bé, một hôm dọc theo bờ biển, cậu nhặt từng con sao biển trên tay rồi lần lượt quăng từng con ra biển xa, cứ như thế, mỗi khi cậu có dịp ra bờ biển. Một lần nọ, có người trông thấy cậu làm như vậy và bảo với cậu rằng; trông cậu làm một việc không ích lợi gì cả, vì sau đó sóng biển cũng sẽ đưa chúng trở lên bãi cát khô. Thế nhưng, cậu bé kia trả lời rằng; ít ra cậu cũng giúp cho chúng có thêm một ít thời gian sống dưới biển…”

Như vậy, tất cả việc làm là cốt để phát sinh sự sống sao cho được tươi mát lành mạnh là cần, sự sống được nuôi dưỡng tốt bởi những chất liệu có ý thức, có thiết thực đạo lý, có nhân tính.v.v… Chính điều đó, ở đây và bây giờ là sự tồn tại thanh cao, sự hướng thượng trong sáng, sự an bình mầu nhiệm một cách nghiễm nhiên hơn bao giờ hết.

Vì vậy, một chiều bình an, không phải là một chiều chỉ cho khái niệm, không phải là cầu an lẫn tránh, không phải là một mơ hồ ý tưởng xa xôi, càng không phải là sự mệt mõi, chán chường trong bùn dục của thói đời. Nếu như những ý niệm hành động trên, thì khác gì một tâm hồn hoang mạc, cọc còi tư duy, mục nát với thời gian.

Trái lại, có một chiều thật sự tìm và trồng sen và thật sự có giúp cho bao nhiêu con cá nơi trũng nước cạn đục kia được tự do thong dong ngược xuôi nơi bến rộng sông dài. Điều ấy có khác gì đã và đang tưng bừng bởi những sắc hương hoa và lá của sen. Đi và tìm bao “kỳ hoa dị thảo”, thế nhưng trên vạn nẻo đời, ở đâu lại không có (hoa thơm cỏ lạ) vẫn nở muôn trùng trong ta và trong cả cuộc đời.


VẬT THỂ LẠ TẠI ĐỀN THỦY TỔ KINH DƯƠNG VƯƠNG

Vật thể lạ có hình dáng ba chiều, nghe mọi người kể lại nó được xây theo mô hình Kim Tự Tháp của Ai Cập, đế có hình vuông và hình tròn tượng trưng cho trái đất, mặt trời và mặt trăng. 




Tại đền Thủy Tổ Kinh Dương Vương (Thuận Thành, Bắc Ninh), nhiều năm nay xuất hiện một “biểu tượng lạ” với mục đích xây dựng lên để nhằm lọc linh khí của trời đất, loại trừ khí độc, phòng bệnh tật cho người dân… khiến cho du khách thập phương tò mò.


Không chỉ người dân địa phương mà ngay cả những người đồng ý cho xây dựng cho đến lãnh đạo chính quyền địa phương cũng không hề hay biết đó là vật gì.
Gần đây, nhiều người dân khi đi lễ đền Kinh Dương Vương (thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh) phản ánh, phía trong đền có xây một biểu tượng lạ, không biết nó mang ý nghĩa là gì, nhiều người dân còn cho rằng nó giống như một bùa chấn yểm ngôi đền. Thủ từ đền Thủy Tổ Kinh Dương Vương – Biện Xuân Hương, 66 tuổi – cho biết, ông mới về đây năm 2013 nên không biết nó được xây dựng từ khi nào, ông cũng không biết nó mang ý nghĩa gì, thực hư của vật thể này ra sao thì người dân cũng hiếm có ai biết được, chỉ biết nó có hình dáng ba chiều, nghe mọi người kể lại nó được xây theo mô hình Kim Tự Tháp của Ai Cập, đế có hình vuông và hình tròn tượng trưng cho trái đất, mặt trời và mặt trăng.

Ông Biện Xuân Phẩm, 67 tuổi (cụ từ thứ hai của đền – người có 7 năm làm trong đền Kinh Dương Vương) – cho hay:”Tôi không biết cái này ở đâu ra, nó là của Việt Nam hay của nước ngoài, hiện nay chưa ảnh hưởng gì đến tâm linh thờ cúng. Du khách thập phương đến nhiều người không biết thì hỏi thì chúng tôi cũng chỉ biết trả lời như vậy, nhiều người không nói gì, nhiều người cũng bảo không tán thành việc có một biểu tượng lạ, không rõ ràng trong ngôi đền cổ kính linh thiêng”.

“Tháp này được đoàn tâm linh Thăng Long cung tiễn từ tháng 6/2012, và họ tuyên truyền tâm linh và đặt vấn đề xây dựng nhà đền có hỏi ý kiến lãnh đạo thôn và được đồng ý thì cho họ làm.
Họ thuê người dân sở tại xây dựng trong vòng 1 tuần, ngày khánh thành họ mang chóp 3 chiều đặt lên và bảo đây là vật lọc linh khí của trời đất, loại trừ khí độc, phòng bệnh tật, còn mặt tròn biểu tượng lạ gắn trên hình chóp họ bảo là mặt trống đồng, người dân chúng tôi chưa được nhìn thấy hình mặt trống đồng như thế nào nên cũng tin, ít ai biết được nó lại có dòng chữ trên mặt biểu tượng. Từ ngày họ làm xong, mỗi năm họ về khoảng 2 lần lễ đền nhưng cũng chẳng hỏi thăm gì đến cái này”, cụ từ Biện Xuân Phẩm nói. Ông Tân
trưởng thôn Á Lữ cho biết, sau khi các cụ giới thiệu, họ đến gặp chúng tôi, lãnh đạo địa phương có hỏi ý kiến các cụ và được đồng ý thì cho họ xây dựng, chứ tới giờ cũng không biết rõ nó là gì, sau khi xây dựng được vài năm tới giờ vẫn chưa xảy ra vấn đề gì nghiêm trọng về đời sống an sinh của nhân dân, chỉ có việc nhiều người dân không biết nên thắc mắc.

Ông Nguyễn Quốc Thanh – chủ tịch UBND xã Đại Đồng Thành (Thuận Thành, Bắc Ninh) – cho biết: “Cách đây vài năm nhóm người tâm linh đi theo đoàn UNESCO về đền Kinh Dương Vương có gặp các cụ ở thôn Á Lữ và bảo có lòng cung tiễn, họ gọi là tháp cân bằng âm dương và đã cung tiễn ở nhiều nơi, cả ở một số đền khác, các cụ thấy có tháp cân bằng âm dương ở đền thì hay quá thì đồng ý và người ta làm.


Lúc này các cụ cũng không báo cho xã biết nên chúng tôi không nắm rõ được. Hiện đến bây giờ chúng tôi cũng không biết thực chất nó là cái gì theo chúng tôi tìm hiểu được thì nó chỉ là một tháp có ý nghĩa tâm linh, cân bằng âm dương. Đoàn này chỉ về làm việc với các cụ ở đền chứ không làm việc với chúng tôi, hay làm việc với huyện nên chúng tôi cũng chịu”.

“Ngày trước người ta có tâm thì mình cho lễ nhận nhưng đến giờ chưa hiểu rõ nó là gì thì cũng khó nói rõ với người dân mỗi khi được hỏi. Giờ muốn đập bỏ cũng khó, chỉ đợi khi khởi công tu bổ đền, xem xét nó có gây ảnh hưởng gì đến giá trị lịch sử hay không thì phá vỡ hoặc di dời đi chỗ khác. Riêng tôi thì nên bỏ đi vì nó không thuộc nơi địa linh thiêng liêng của ngôi đền Thủy Tổ nước Việt”, cụ từ Biện Xuân Phẩm nói.

Theo Ban quản lý di tích lăng và đền thờ Kinh Dương Vương, thần phả, sắc phong và sử sách còn lưu lại cho thấy, năm 2879 Trước Công nguyên, Kinh Dương Vương lên ngôi, lập lên nhà nước Xích Quỷ, nhà nước sơ khai độc lập có chủ quyền đầu tiên của dân tộc ta. Kinh Dương Vương kết duyên với Thần Long sinh ra Lạc Long Quân (tên húy là Sùng Lãm).

Sau đó, Lạc Long Quân kết duyên với Âu Cơ sinh ra các vua Hùng. Lăng và Đền thờ Kinh Dương Vương từ lâu đã được các triều đại Phong kiến Việt Nam xếp vào loại miếu thờ các bậc Đế vương, mỗi lần Quốc lễ đều cho quân đến tế lễ, dân thờ phụng trang trọng. Trong lăng hiện còn bức hoành phi đề “Nam Bang Thủy Tổ”, tức là “Thủy tổ nước Nam.



BỨC TƯỢNG PHẬT CAO NHẤT THẾ GIỚI

Bức tượng Phật thiền hành cao nhất thế giới đã được công bố vào ngày 14 tháng 2 năm 2014. Bức tượng này được tôn trí trong khuôn viên ngôi Cổ Tự Ranawana, Thành phố Kandy, Sri Lanka. 




Bức tượng dáng đi bách bộ khoan thai nhẹ nhàng chiều cao 80 mét, tư thế từng bước chân sống động như đức Phật hiện thân thật, uy nghiêm với gương mặt Từ bi Trí tuệ. Bức tượng đã được công bố tại buổi lễ có sự hiện diện của ông DM Jayarathna, Thủ tướng Chính phủ Sri Lanka và chư tôn thiền đức Tăng già, quý quan chức sở tại và phật tử đồng tham dự. 
Công trình xây dựng bức tượng với sự bảo trợ duy nhất của ông Padmasiri Muthumala, chủ sở hữu của Công ty Thực phẩm Ruhunu (PVT) LTD. Bức tượng Phật thiền hành cao nhất thế giới so với bức tượng Buddhamonthon ở Thái Lan trước đó.

Lịch sử ngôi Cổ Tự Ranawana bắt đầu thành lập năm 1602 CE và thuộc về gia tộc Phật giáo lớn được gọi là phái Malwatta của Kandy. Ngôi Cổ Tự Ranawana thanh thoát nhẹ nhàng tọa lạc trên một ngọn đồi nhỏ, bao gồm các ngôi Tự viện với 80 tượng Phật cao lớn trên đỉnh. Đương nhiệm Trụ trì ngôi Cổ Tự Ranawana hiện nay là Hòa thượng Ampitiya Sri Chandrajothi Thero. 
Hòa thượng Ampitiya Sri Chandrajothi Thero hoan hỉ đề cập đến câu  chuyện đằng sau bức tượng: “Trước đây tôi đã đến Thái lan và chiêm bái bức tượng Phật cao nhất thế giới ở quận Phutthamonthon. Sau khi trở về bổn Quốc Sri Lanka, tôi liền nghĩ đến việc tạc một bức tượng tương tự tại ngôi Cổ Tự Ranawana. Đầu tiên tôi mời nhà điêu khắc đến để chia sẻ. Nhà điêu khắc ấy nói tại sau Hòa thượng lại muốn dựng tượng tương tự ? Chúng ta hãy xây dựng lớn nhất thế giới”.

Trong quá trình xây dựng, ngay từ đầu đã cho thấy Dự án đang đầy thách thức, bởi không gian được lựa chọn trên đồi không đủ ổn định để hỗ trợ trọng lượng của bức tượng bê tông hùng vĩ. Ông Suranga Rajawardhana, điêu khắc gia kỳ cựu, Sri Lanka đã khắc phục vượt qua mọi thách thức và cho đến ngày nay Dự án vẫn liên tục hoạt động, khiến cộng đồng kỹ thuật của Sri Lanka hết sức ngạc nhiên với sự thành công mỹ mãn. 

“Bình thường khi có một số kỹ sư ghé thăm trang web thì liền cho kiểm tra. Bởi vì họ muốn tìm hiểu tại sao một nhà điêu khắc đã cho dựng một bức tượng khổng lồ này đứng trên một chân. Trong thực tế, gần đây, một vị Bộ trưởng chính phủ và đội ngũ kỹ sư đã đến thăm chúng tôi để xem tính chính xác", người nhẹ nhàng nói. Hòa thượng Ampitiya Sri Chandrajothi Thero giải thích thêm rằng ông Rajawardhana rất tự hào về sự thành công công trình.

Ngoài những bức tượng, ngôi Cổ Tự Ranawana mô phỏng tinh xảo thích ứng với môi trường xung quanh. Cổng vào ngôi Cổ Tự là một bản sao chính xác của bảo tháp Sanchi, cửa ngõ phía Bắc, Ấn Độ, Hòa thượng Ampitiya Sri Chandrajothi Thero nói bản sao duy nhất của loại hình này bên ngoài của Ấn Độ. 

Sân vườn cảnh của ngôi Cổ tự được bố trí kim thân thánh tượng của hai mươi bốn vị Phật trước đức Thích Ca tương ứng với cội Bồ đề. Sự  bố trí hệ thống vườn tượng trên căn bản mô tả các chuyện Phật tích và 80 pho tượng La Hán xung quanh để hộ trì giáo pháp đức Thế tôn. 
Phương án kiến trúc của toàn bộ ngôi đền được thiết kế bởi Hòa thượng Ampitiya Sri Chandrajothi Thero và ông Suranga Rajawardhana, điêu khắc gia kỳ cựu, Sri Lanka.

"Tôi thấy mô hình phong phú phát triển hơn nữa và sẽ hoàn tất trong vòng vài năm tới. Không có ngôi chùa khác trong tầm cỡ của ông Suranga Rajawardhana, điêu khắc gia kỳ cựu, Sri Lanka" Hòa thượng Ampitiya Sri Chandrajothi Thero nói với một cái nhìn tự hào xác định trên khuôn mặt của mình, nhìn chằm chằm vào các công trình xây dựng đang diễn ra trong sân vườn ngôi Cổ tự Ranawana. 

CHÙA NỔI TIẾNG HÀ NỘI



Chùa Trấn Quốc là một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, nằm cạnh Hồ Tây, ở cuối đường Thanh Niên, quận Ba Đình, Hà Nội. Chùa được xây từ thời Lý Nam Đế (541-547) ở gần sông Hồng, đến năm 1615, được dời vào vị trí ngày nay. Chùa có vườn tháp cổ u tịch, có nhiều tượng Phật giá trị, đặc biệt là tượng Thích Ca nhập Niết Bàn.


Ảnh: Chùa trấn quốc
Cũng giống như hầu hết những ngôi chùa khác trên đất nước Việt, chùa Trấn Quốc có nhiều lớp, có nhà bái đường, nhiều tượng Phật từ thấp đến cao, từ to đến nhỏ, vàng son lấp lánh, hương khói quanh năm...
Chùa còn có 14 tấm bia, trong đó có bia của Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính, tiến sĩ Phạm Quý Thích dựng năm 1639 và 1015...
Người vào chùa Trấn Quốc, ngoài việc thành tâm lễ Phật còn là để có một chút ngao du ngắn, được thăm một danh lam nổi lên thanh bình giữa phố phường ồn ào, tất bật.
Nằm ở phía đông bắc hồ Tây, kề bên khách sạn Thắng Lợi và hàng loạt biệt thự hiện đại đang đua nhau mọc lên - chùa Kim Liên là ngôi chùa nổi tiếng từ xưa. Đất dựng chùa là nền cũ của cung Từ Hoa, thuộc trại tằm Tang. Từ Hoa là con gái vua Lý Thần Tông (1128-1138). Vua dựng cung Từ Hoa cho công chúa và các cung nữ ở đó để thấu hiểu thêm công việc đồng áng vất vả mà thấy rõ hơn giá trị ngôi tôn quí của mình.

Ảnh: Chùa Kim Liên

Đến đời Trần, trại Tằm Tang đổi thành phường Tích Liên. Dân làng dựng chùa Đống Long trên nền cung Từ Hoa cũ. Đến năm 1771, đời Lê Cảnh Hưng, chùa được tu sửa lớn và đổi tên là chùa Kim Liên. Năm 1792, đời vua Quang Trung, chùa được xây dụng lớn, về diện mạo cơ bản giống như hiện nay.
Ai đã tới Hà Nội, với lòng ngưỡng vọng những giá trị lịch sử văn hóa truyền thống, không thể không một lần tới thăm cảnh đẹp này.
Ngay khi tới cổng chùa, khách thăm đã bị choáng ngợp bởi cổng tam quan độc đáo. Đây là một ngôi tam quan không giống bất cứ ngôi tam quan nào ở các chùa khác, toàn bộ kết cấu tam quan có mái che được đỡ từ các thân cột. Từ giữa các thân cột, những "con rường" vươn dài tạo nên bộ vì nóc đỡ mái. Bộ mái lợp ngói vảy cá nhiều tầng, ở giữa đột ngột vươn cao như bông sen tỏa nở trên mặt nước Tây Hồ mênh mang bốn mùa sóng phủ - một nét đẹp đặc sắc bất ngờ.
Bước qua tam quan, men theo con đường nhỏ bên phải, du khách tới đầu hồi gian tiền đường để lãng du về đất Phật. Nhìn từ bên hông chùa, các tầng mái nhấp nhô, những đầu đao cong vút tạo cảm giác như các lớp cung điện trùng điệp như cùng hiện về trong thoáng chốc, phô diễn tài nghệ kiến trúc của người xưa.
Các pho tượng Phật được bày thành hai lớp, trên cùng là bộ Tam thế, tiếp theo là tượng Adiđà, tượng Quan Thế Âm và tượng Đại thế chỉ ở hai bên cùng Ngài A Nan, Ca Diếp là hai đại đệ tử của Đức Phật. Lớp dưới là Quân Âm Chuẩn Đề, tượng Ngọc Hoàng, dưới cùng là tòa Cửu Long. Các pho tượng đều mang phong cách điêu khắc thế kỷ XVIII - XIX, chùa có tượng Uy vương Trịnh Giang, người đã cấp tiền hưng công tu tạo chùa năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771).
Chùa Kim Liên còn lưu giữ được một tấm bia cổ, nay dựng phía bên phải cổng chùa, trên bệ đá hình vuông, dù năm tháng đã làm phai mờ nhiều nét chữ nhưng còn xem được niên hiệu Thái Hòa tam niên Ất Sửu - tức năm 1445 thời Lê Nhân Tông. Đây là tấm bia cổ nhất ở Hà Nội hiện nay.
Chùa Quán Sứ, trụ sở của Hội Phật giáo Việt Nam, nằm ở phố Quán Sứ, trung tâm Thủ đô nên rất thuận tiện cho việc đi lại vãn cảnh, cúng bái của khách thập phương. Vào những ngày rằm, ngày mồng một, ngày lễ tết, đặc biệt là ngày Phật đản... các Phật tử, các thiện nam, tín nữ kéo về đây rất đông, tấp nập cả một đoạn đường Quán Sứ.
Tiền đường chùa Quán Sứ thờ Phật, hậu đường thờ quốc sư triều Lý là Thiền sư Khuông Lộ. Trong chùa, ngoài các cơ quan của Hội Phật giáo còn một thư viện lớn, lưu giữ nhiều kinh sách Phật giáo.
Nhiều người Việt và cả người nước ngoài đến Hà Nội dẫu có bận bịu mấy cũng gắng đến vãn cảnh thắp nhang ở chùa Quán Sứ vì trong thâm tâm họ, chưa vào Quán Sứ cũng coi như chưa đến Hà Nội.


CHÙA NÚI CHÂU THỚI Ở BÌNH DƯƠNG

Thăm chùa Núi Châu Thới ở Bình Dương.

Chùa Núi Chây Thới tọa lạc trên núi Châu Thới, nên chùa cũng mang tên núi. Nhìn từ xa đã thấy ngôi chùa ở độ cao 82m (so với mặt nước biển), ẩn hiện sau rặng cây cối xanh rì. Có tài liệu cho rằng chùa do thiền sư Khánh Long xây vào khoảng năm 1612, ban đầu chỉ là một thảo am nhỏ. Sau đó, thảo am được đổi là chùa Hội Sơn, và hiện nay là chùa Núi Châu Thới.





Chùa tọa lạc trên núi Thới Sơn.
Dưới chân núi là một hồ nước rộng, phong cảnh nên thơ. Từ sân chùa có thể ngắm nhìn phong cảnh của các vùng xung quanh thành phố Biên Hòa cùng dòng sông Đồng Nai uốn quanh.,
Dưới chân núi là một hồ nước rộng, phong cảnh nên thơ
Cũng có tài liệu nói rằng chùa được lập vào năm 1681. Dù được lập nên vào năm 1681 - thay vì năm 1612 - chùa Núi Châu Thới vẫn là ngôi chùa xưa nhất Bình Dương.

chùa Núi Châu Thới vẫn là ngôi chùa xưa nhất Bình Dương

Trải qua hơn ba trăm năm chịu sự hủy hoại tàn phá của thời gian và chiến tranh, chùa Núi Châu Thới nay không còn giữ được dấu tích, di vật nguyên thủy của một ngôi chùa hình thành vào hàng sớm nhất Nam bộ. Số cổ vật có giá trị đã được xếp loại tại chùa Núi Châu Thới hiện còn lưu giữ được 55 hiện vật.

chùa Núi Châu Thới hiện còn lưu giữ được 55 hiện vật

Đã trải qua nhiều lần trùng tu và xây dựng thêm, quần thể kiến trúc chùa Núi Châu Thới hiện nay được xây vào nhiều thời điểm khác nhau, gồm ngôi chánh điện, các điện thờ Thiên Thủ Thiên Nhãn, Linh Sơn Thánh Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu, Ngũ Hành Nương Nương và cả điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế.


NGHE LỜI PHẬT DẠY


 Việc cạnh tranh thất bại là biểu hiện người đó không đủ năng lực, trí tuệ, chuyên môn. Vậy phải nên nổ lực tìm sự cải tiến.

Người ta thường nói "Trong buôn bán việc cạnh tranh là điều bình thường" Nếu nói theo nhà Phật từ bi là không cạnh tranh thì bạn sẽ không thể trưởng thành và khi đối diện với người khác mình cũng thật sự có được sự lợi ích. Có cạnh tranh thì xã hội mới được tiến thêm lên, phồn vinh hơn, có đối thủ thì mình mới làm tốt hơn.
Việc cạnh tranh phải mang tính lành tốt, phải mang đến điều lợi cho mình và xã hội

Việc cạnh tranh thất bại là biểu hiện người đó không đủ năng lực, trí tuệ, chuyên môn. Vậy phải nên nổ lực tìm sự cải tiến.

Pháp sư Thánh Nghiêm
Dịch lời: Tỳ kheo Thích Minh Kiết


GIÁC QUAN THỨ 6

Trong suốt lịch sử hình thành và phát triển của loài người, các nhân vật thần bí luôn tuyên bố sở hữu "giác quan thứ 6", giúp họ có thể dự đoán những điều tốt/xấu sắp xảy ra hoặc có những mối liên hệ với thế giới khác, siêu nhiên. 


Tuy nhiên, theo một nghiên cứu mới, khả năng thấu tỏ tương lai hoặc cảm nhận về những gì dị thường sắp đến chỉ đơn thuần là "tiểu xảo" của trí não đã bị hiểu nhầm hàng thiên niên kỷ nay.
Các chuyên gia thừa nhận, con người thực sự "cảm nhận" được những thay đổi xảy ra trong một khung cảnh, ngay cả khi họ không thể nhận diện chính xác những thay đổi đó. Tuy nhiên, họ khẳng định, quan điểm cho rằng, hiện tượng này liên quan đến một quyền năng đặc biệt nào đó là sai về cơ bản.

Trong các thử nghiệm, nhóm nghiên cứu đến từ Trường Tâm lý học Melbourne (Australia) đã đưa cho những người tình nguyện các cặp ảnh màu về cùng một người phụ nữ. Trong một số trường hợp, ngoại hình của người phụ nữ, chẳng hạn như kiểu tóc, sẽ khác biệt trong 2 bức ảnh. Mỗi người tình nguyện được phép quan sát một bức ảnh trong 1,5 giây và dừng nghỉ 1 giây trước khi chiêm ngưỡng bức ảnh còn lại trong cùng cặp.


Sau khi xem bức ảnh thứ 2, người tình nguyện sẽ nhận được câu hỏi về việc liệu có thay đổi nào xuất hiện hay không và được yêu cầu chọn ra nó từ danh sách liệt kê 9 khả năng thay đổi, bao gồm hoa tai, vòng cổ/dây chuyền, kính, mũ, son, bóng mắt (trang điểm), viền mắt, quần áo và kiểu tóc.

Kết quả cho thấy, những người tình nguyện nhìn chung đều có khả năng "cảm nhận" hoặc phát hiện thay đổi, dù nhỏ nhất, ngay cả khi họ không thể mô tả chính xác nó. Một thử nghiệm tương tự khác nhằm kiểm tra những khác biệt không liên quan đến khuôn mặt, cũng vẫn cho kết quả tương tự.

Các nhà nghiên cứu nhận định, hiện tượng trên chứng minh, con người đã không sử dụng bất kỳ cơ chế ngoại cảm hay giác quan thứ 6 nào khác ngoài 5 giác quan truyền thống, bao gồm thị giác, xúc giác, thính giác, vị giác và khứu giác. Thay vào đó, họ dựa vào những gì đã quan sát được trong thực tế, nhưng chưa có thời gian xử lý.
Nhóm nghiên cứu kết luận, hiện tượng "giác quan thứ 6" hay tiên tri xuất hiện khi bộ não của người không có thời gian để xử lý thông tin họ nhìn thấy, tạo ra cảm nhận mơ hồ về những thay đổi mà chủ thể không hoàn toàn lý giải được.